Theo một số quan điểm, Phật giáo không phải là một tôn giáo (không bao gồm việc thờ phụng một vị Thần hay các vị thần), mà là một truyền thống tâm linh phương Đông cổ xưa tập trung vào việc phát triển tinh thần thông qua nhận thức không phán xét về trải nghiệm. Dưới góc nhìn của Phật giáo, trong khi nỗi đau (pain – gắn với các thực kiện cơ thể – tâm trí) là một phần tất yếu của cuộc sống, thì sự khổ đau (suffering – gắn với Tâm) lại không phải như vậy, bởi vì khổ đau là kết quả của việc bám chấp vào những trải nghiệm được đánh giá là dễ chịu hay ‘tốt’ và né tránh những trải nghiệm bị đánh giá là khó chịu hay ‘xấu’. Điều này dẫn đến sự gắn bó mang tính gây nghiện với một số trải nghiệm và sự né tránh mang tính ám ảnh sợ hãi đối với những trải nghiệm khác, khiến chúng ta tràn ngập nỗi sợ hãi cùng sự thèm khát, đồng thời hạn chế một cách tổng thể sự cởi mở trong trải nghiệm của chúng ta. Chúng ta có thể nói rằng, sức khỏe tâm lý có được từ việc trải nghiệm bản thân như chúng ta vốn là. Việc đồng nhất hóa hệ quả với các khía cạnh được chọn lọc của trải nghiệm sẽ tạo ra một bản sắc hẹp hòi và ảo tưởng mà chúng ta bảo vệ một cách phòng thủ. Giải pháp của Phật giáo cho điều này là sử dụng kỹ thuật Thiền chánh niệm để nuôi dưỡng một nhận thức không phán xét đối với tất cả những suy nghĩ và cảm xúc nảy sinh, mà không cố xua đuổi hay níu giữ bất kỳ điều gì trong số chúng.

Hãy chú ý xem điều này khác biệt như thế nào so với các giáo lý tôn giáo, những thứ vốn khăng khăng áp đặt chúng ta phải (hoặc không được) suy nghĩ và hành xử như thế nào. Thiền chánh niệm đòi hỏi bạn phải ngồi yên lặng với đôi mắt nhắm lại và ‘đơn thuần’ quan sát bất cứ điều gì tự biểu hiện trong nhận thức của bạn, mà không can thiệp, phán xét hay cố gắng kiểm soát quá trình trải nghiệm này. Nghe có vẻ dễ dàng? Hãy thử và xem điều gì sẽ xảy ra. Kỷ luật của việc ‘chỉ ngồi’ và chịu đựng tất cả các dạng thức của sự thất vọng tâm lý, thay vì cố gắng kiểm soát, lý trí hóa hay loại bỏ chúng, mang lại cảm giác khó khăn đến nản lòng. Tuy nhiên, sự kiên trì qua nhiều năm sẽ dẫn đến sự hiểu biết sâu sắc hơn về các hoạt động của tâm trí, sự nới lỏng các cấu trúc bản sắc mang tính phòng thủ, sự chấp nhận cuộc sống như nó vốn có, và một trạng thái tinh thần thân thiện vô điều kiện đối với chính mình. Trạng thái thức tỉnh và bình tâm này không thể đạt được thông qua nghiên cứu hay hiểu biết sâu sắc về mặt trí tuệ, và một người càng khao khát cũng như nỗ lực vì nó, thì nó càng trở nên xa vời. Do đó, thiền định là việc rất khó thực hành và duy trì, và nó tạo ra sự đau khổ đáng kể về mặt tinh thần. Vì lý do này, người mới tập thiền cần có sự hướng dẫn từ một ‘bậc thầy’ hoặc người cố vấn Phật giáo giàu kinh nghiệm hơn, người đã trải qua những gì người mới bắt đầu đang trải qua trong quá trình thiền định của chính họ, và do đó hiểu được sự kháng cự của tâm trí trong việc buông bỏ các mô thức phòng thủ và gây nghiện cũ kỹ.

Điều này nghe có vẻ quen thuộc không? Chắc chắn là có! Mặc dù Bion không phải là một Phật tử và không thảo luận về Phật giáo trong các bài viết của mình, nhưng những điểm tương đồng giữa con đường tâm linh này và quan niệm của Bion về sự thay đổi tâm lý thông qua phân tâm học là rất nổi bật. Có vẻ như phân tâm học của Bion và thực hành tâm linh của Phật giáo hội tụ ở một sự hiểu biết chung về những gì hạn chế và thúc đẩy sự phát triển tâm lý, và về việc công việc tâm lý nào đối với chính bản thân là cần thiết để nuôi dưỡng thái độ tinh thần cởi mở tuyệt đối với trải nghiệm.

Biên dịch từ: Jacki Watts, Kate Cockcroft, Norman Ducan (Editors), Developmental psychology, Juta, 2013, p.135

By Trần Tình

Thạc sĩ Tâm lý học. Chuyên viên trị liệu tâm lý thanh thiếu niên và người lớn. Giảng viên thỉnh giảng Khoa Tâm lý học – ĐH KHXH & NV, ĐH Quốc Gia Hà Nội

Leave a Reply