Esther Bick1 mô tả lần đầu tiên về quan sát trẻ sơ sinh như một phương pháp tâm lý học có hệ thống quy chuẩn vào năm 1964 (2002). Phương pháp này có thể được phác thảo như sau:

Sinh viên được yêu cầu và chủ động sắp xếp để đến thăm một gia đình có trẻ sơ sinh theo từng tuần, trong hai năm đầu đời của trẻ. Có nhiều sinh viên vốn đã làm việc với trẻ em hoặc là những chuyên gia đang làm việc trong các môi trường chuyên nghiệp với trẻ nhỏ, tuy nhiên, các học viên tham gia vào tình huống này với tư cách là một người học. Thông thường, sinh viên sẽ gặp cả bố và mẹ trước khi đứa trẻ được sinh ra. Bố mẹ sẽ được hỏi trước liệu họ có sẵn sàng đón tiếp một người đến quan sát mỗi tuần khoảng một tiếng đồng hồ cho đến khi em bé được hai tuổi hay không. Sinh viên tự giới thiệu mình là một người quan tâm đến việc tìm hiểu cách các em bé hình thành và phát triển các mối quan hệ.

Nguồn ảnh: Internet

Người quan sát sẽ dành một giờ đồng hồ quan sát trong một trạng thái tâm trí tiếp thu, quan sát và lắng nghe, nhưng không ghi chép bất cứ điều gì lại. Người đó phải tìm một vị trí mà từ đó bản thân có thể dễ quan sát, đảm bảo sự khách quan, nghĩa là không trở thành một phần của nhóm gia đình, không can thiệp hay can thiệp vào đó. Sau chuyến thăm gia đình, người quan sát được yêu cầu ghi lại những gì đã quan sát được một cách chính xác và chi tiết nhất có thể. Các người quan sát thường lo lắng rằng họ sẽ không nhớ đủ tốt để báo cáo lại các quan sát của cả một giờ đồng hồ. Đây là một kỹ năng sẽ được phát triển dần dần, và các người quan sát thường ngạc nhiên khi thấy họ có thể dần nhớ lại và ghi chép được nhiều chi tiết đến thế.

Người quan sát, theo một nghĩa nào đó đang ở vào một vị trí tương tự như vị trí của những người mới làm cha mẹ. Người đó đang bước vào một tình huống “chưa biết gì” và hy vọng sẽ dần học được điều gì đó về các em bé và mối quan hệ của chúng với gia đình, tiếp cận tình huống với một tâm trí cởi mở, tập dần trạng thái không có những phán xét hay định kiến. Thông thường, một người quan sát sẽ quan sát đứa con đầu lòng và người mẹ, đôi khi có những đứa trẻ khác, hoặc một người cha hiện diện ở đó. Những thành viên trong gia đình được quan sát sẽ được ghi nhận như một phần của cuộc quan sát.

Nguồn ảnh: Internet

Các báo cáo bằng văn bản sau đó được chia sẻ với một nhóm nhỏ bao gồm năm bạn học trong một buổi hội nhóm học tập định kỳ. Nhóm này hoạt động như một nơi “chứa đựng” trải nghiệm của chính người quan sát, nhóm có thể giúp sinh viên xem xét tác động cảm xúc của một đứa trẻ mới sinh đối với một gia đình, và cả đối với chính bản thân họ. Khi sinh viên trải nghiệm một cách trực tiếp sự kiện căng thẳng và đầy cảm xúc này của một gia đình, sinh viên cũng bị ảnh hưởng sâu sắc bởi trải nghiệm đó. Điều này có thể đặc biệt gây những tác động nội tâm nếu người quan sát phải tiếp xúc với những trải nghiệm gợi nhớ đến những trải nghiệm thời thơ ấu của chính họ. Vì lý do này, những người thực hiện quan sát trẻ sơ sinh được khuyến khích tham gia vào quá trình phân tích tâm trí hoặc trị liệu tâm lý của chính họ.

Nhiệm vụ của một cuộc quan sát chính là mô tả sự phát triển của các mối liên hệ giữa một trẻ sơ sinh và những người khác, bao gồm cả người quan sát. Những ý nghĩa có thể có của các quan sát cẩn thận này sau đó được thảo luận trong nhóm học hàng tuần, các người quan sát lần lượt trình bày tài liệu quan sát. Dần dần, các người quan sát được yêu cầu xem xét bức tranh đang nổi lên về tính cách của một đứa trẻ sơ sinh, đâu là sự tương tác tinh tế giữa các yếu tố bẩm sinh và các yếu tố phát triển, những yếu tố này có thể được hỗ trợ bởi môi trường như thế nào. Cần lưu ý một số vấn đề trong việc thảo luận về mức độ môi trường đang “chứa đựng” trải nghiệm của đứa trẻ sơ sinh. Nhờ có sự chia sẻ trong nhóm giám sát, mỗi người quan sát đều có cơ hội để biết rất rõ về em bé được quan sát của mình, họ cũng biết về những em bé được quan sát bởi những sinh viên khác. Sự lắng nghe và quan sát tổng thể trong nhóm giám sát thường giúp làm nổi bật sự độc đáo của mỗi em bé, người mẹ và hoàn cảnh gia đình trong mỗi phiên chia sẻ.

Nguồn ảnh: Internet

Một người quan sát có thể có rất nhiều lợi ích trong việc tìm hiểu nghiên cứu về một em bé thực tế, cũng có thể thu được những trải nghiệm quý giá từ phản ứng của chính mình đối với cuộc quan sát. Trải nghiệm của một cuộc quan sát cũng mang lại những cơ hội cho sự phát triển cá nhân học viên và chuyên môn. Kiến thức lý thuyết được khám phá cùng với trải nghiệm thực tế khi ở bên quan sát một đứa trẻ.

Vị trí của người quan sát đòi hỏi người đó phải học cách nhẫn nại và dung hòa những cảm xúc mãnh liệt mà không hành động theo những cảm xúc bên trong này. Người đó dần dần luyện tập và phát triển không gian tâm trí để quan sát những gì đang xảy ra bên trong chính mình, cũng như xem xét những sự kiện được quan sát có ý nghĩa gì đối với một người mẹ, người cha và em bé. Những trải nghiệm này vô cùng hữu ích trong thực hành lâm sàng, đặc biệt là trong công việc trị liệu tâm lý khi làm việc với trẻ em.

Các kỹ năng như quan sát chính xác, khả năng ghi nhớ cũng như ghi lại những chi tiết nhỏ nhặt nhất của một tình huống cũng là những kỹ năng có giá trị trong thực hành lâm sàng.

  1. Esther Bick là một nhà Phân tâm học và nhà Tâm lý học trẻ em. ↩︎

By Trần Tình

Thạc sĩ Tâm lý học. Chuyên viên trị liệu tâm lý thanh thiếu niên và người lớn. Giảng viên thỉnh giảng Khoa Tâm lý học – ĐH KHXH & NV, ĐH Quốc Gia Hà Nội

Leave a Reply