Những trải nghiệm mang tính loạn thần không phải là điều độc nhất chỉ có ở những người bị loạn thần. Bion đã đưa ra giả thuyết rằng tâm trí chúng ta bao gồm hai dạng hoạt động tâm trí cùng tồn tại, mà ông gọi là trạng thái loạn thần và trạng thái phi – loạn thần. Do đó, luôn có một phần “lành mạnh” (hướng về thực tại) hiện diện ngay cả ở những người bị loạn thần, dù cho phần đó có bị ghét bỏ và gây hấn đến đâu đi nữa; đây la điểm Bion đã tạo nên những lý thuyết phân tâm học của riêng mình.
Quan điểm cho rằng sự tiếp xúc với thực tại đã bị mất hoàn toàn trong tình trạng loạn thần thực chất là một ảo tưởng phòng vệ của phần nhân cách đang “nỗ lực” phá hủy mối liên hệ với thực tại. Tương tự như vậy, luôn có một phần loạn thần ở những cá nhân bình thường và nhiễu tâm (neurosis), dù phần này có bị che giấu kỹ đến đâu. Nó trở nên rõ ràng nhất trong các cơn vi-loạn thần (micro-psychotic episodes) dưới những điều kiện căng thẳng cực độ, trong các trạng thái cảm xúc bị thoái lui, và ngay cả trong những phản ứng cảm xúc “điên rồ” của chúng ta đối với các sự kiện diễn ra vào những ngày “tồi tệ” bình thường đó. Vào những lúc như vậy, khả năng nhìn nhận sự việc một cách rõ ràng, duy trì kết nối với những người khác, suy nghĩ về cảm xúc của bản thân và đặt các phản ứng của mình trước sự việc vào đúng bối cảnh của chúng sẽ tạm thời biến mất.
Ví dụ, bạn có thể liên hệ với trường hợp sau đây, trong đó chúng ta thấy sự xuất hiện chớp nhoáng của phần loạn thần ở một con người bình thường:
A thức dậy với cảm giác hơi mệt mỏi và cáu kỉnh. Cô nhớ lại một giấc mơ tồi tệ trong đó cô bị một con chó hung dữ tấn công. Cô rất ghét chó và có ý thức gạt bỏ những suy nghĩ tiếp theo về giấc mơ đó. Cô đi rửa mặt cho tỉnh táo lại và ăn sáng. Cô thấy chồng mình đang đọc báo và với cảm giác cáu kỉnh dữ dội, cô tự hỏi tại sao anh ấy lại không muốn nói chuyện với cô. Anh mỉm cười với cô và cô cảm thấy có phần yên tâm hơn. Anh đọc cho cô nghe một câu chuyện về một người phụ nữ bị cưỡng hiếp trong căn hộ của cô ấy, gần nơi A sống. Cô đột nhiên cảm thấy tức giận và thốt lên rằng tất cả những kẻ cưỡng hiếp đáng bị hoạn. Chồng cô hạ tờ báo xuống và nói, “Đó có thực sự là một giải pháp cho…”. Cô ngắt lời anh, nói rằng anh là đàn ông nên tất yếu là anh đang bênh vực kẻ hiếp dâm.
Cô cảm thấy chốc lát sợ hãi anh, có thôi thúc muốn bỏ nhà ra đi, và bị ám ảnh bởi khả năng rằng người mà cô đã kết hôn có một mặt tối mà cô chưa từng thấy trước đây. Ở đây, chúng ta thấy sự nhập nhằng giữa thực tại nội tâm và ngoại giới, điều này khơi dậy một trạng thái tâm trí hoang tưởng và bóp méo trải nghiệm cũng như mối liên hệ của A với một đối tượng nội tâm tích cực trước đó về chồng mình. Giấc mơ – có lẽ tượng trưng cho một khía cạnh gây hấn mất kiểm soát của chính nhân cách cô và bài báo không phải là nguyên nhân gây ra phản ứng của A, mà đóng vai trò như chất xúc tác kích hoạt khía cạnh loạn thần trong hoạt động tâm trí của cô.
Khi nhân cách loạn thần thống trị đời sống trí theo một cách thức lâu dài hơn, chúng ta sẽ tìm thấy các triệu chứng vốn là đặc trưng của sự điên loạn. Ở đây, chúng ta chứng kiến trạng thái không thể dung nạp sự thất vọng đến mức gây suy nhược, hệ quả là sự căm ghét thực tại, cùng với sự chia tách và phân mảnh đến từng chi tiết của phần nhân cách liên quan đến nhận thức về thực tại, cả nội tâm lẫn ngoại giới. Các mảnh vụn này bị đẩy ra ngoài và trong huyễn tưởng tưởng (phantasy), chúng xâm nhập hoặc bao trùm lấy các đối tượng của chúng, khiến cá nhân bị bao quanh bởi một thế giới bên ngoài thù địch, đáng sợ gồm các “đối tượng kỳ dị” (bizarre objects), được hoạt hóa bởi những khía cạnh bị tách rời của chính bản thân và hệ thống giác quan của cá nhân đó. Ví dụ, một người có thể tin rằng chiếc tivi đang theo dõi cô ta, hoặc chiếc đài đang nghe lén những suy nghĩ của cô ta.
Phần loạn thần đóng vai trò làm suy yếu, thông qua việc cơ chế phóng chiếu, tất cả các đặc điểm của nhân cách vốn cung cấp nền tảng cho sự hiểu biết mang tính trực giác, dựa trên thực tại về bản thân và những người khác. Các đặc điểm này bao gồm ý thức về ấn tượng giác quan, và các chức năng nhận thức như sự chú ý, trí nhớ, phán đoán và tư duy.
Do hoạt động của phần phi – loạn thần trong nhân cách, cá nhân có thể nhận thức được rằng việc nội nhập (introjection) bao gồm việc liên kết và hình thành một không gian tinh thần nơi các suy nghĩ có thể diễn ra. Do đó, sự đồng nhất phóng chiếu (projective identification) được sử dụng để phóng chiếu mối liên hệ giữa ý thức (biểu hiện trong tư duy) và các ấn tượng giác quan về thực tại. Các mối liên hệ cũng bị tấn công, khiến cho việc hình thành biểu tượng trở nên bất khả thi vì hai đối tượng không thể được đặt cạnh nhau mà không khiến cho sự tương đồng và khác biệt của chúng bị nhầm lẫn.
Bởi vì người loạn thần không thể biểu tượng hóa, các từ ngữ được cảm nhận như chính những sự vật mà chúng gọi tên. Do đó, người loạn thần có thể đánh đồng nhưng không thể biểu tượng hóa, điều này biểu hiện rõ qua tư duy cụ thể của người loạn thần và cách họ sử dụng cũng như phản ứng với ngôn ngữ một cách vô cùng kỳ quặc (idiosyncratic). Trong những trường hợp này, bản thân các từ ngữ có thể trở đáng sợ vì chúng được trải nghiệm như những sự vật có thật, chứ không phải là biểu tượng của các sự vật có thật.
Ví dụ, một nhà tâm lý trị liệu gợi ý với một bệnh nhân rằng có vẻ như anh ta (bệnh nhân) đang nói chuyện với vẻ giận dữ. Bệnh nhân trở nên rất sợ hãi vì lời nhận xét đó được trải nghiệm như thể nhà trị liệu đang ép sự giận dữ vào bên trong người bệnh nhân.
Khi vắng bóng tính biểu tượng, các suy nghĩ trở nên đáng sợ vì chúng bị đánh đồng với các hành động. Việc có những suy nghĩ căm ghét hoặc tức giận về ai đó khiến một người phải chịu trách nhiệm về việc đã tấn công hoặc làm hại họ. Do đó, các huyễn tưởng (phantasies) chính là thực tại, chứ không phải là những suy nghĩ về thực tại, đó là lý do tại sao người ta không thể khiến các bệnh nhân loạn thần “nhận thức trách nhiệm” về những sự phóng chiếu của họ theo cách mà người ta có thể làm với những người ít bị tổn thương hơn.
Việc tái nội nhập các phần hủy diệt của bản ngã đã bị phóng chiếu là điều vô cùng đáng sợ đối với bệnh nhân vì họ cảm thấy như thể mình đang bị xâm chiếm và tấn công bởi các “đối tượng kì dị”. Do đó, các bệnh nhân loạn thần thường không thể tiếp thu những lời nói của nhà trị liệu vì cảm giác như nhà trị liệu đang cố gắng ép một thứ gì đó xa lạ và độc hại (các phần bị phóng chiếu của bản ngã) quay trở lại bên trong họ. Điều này giúp chúng ta hiểu được tại sao sự thấu hiểu của nhà trị liệu lại bị trải nghiệm như một sự bức hại, và do đó bị các bệnh nhân loạn thần sợ hãi và căm ghét.
Biên dịch từ: Jacki Watts, Kate Cockcroft, Norman Ducan (Editors), Developmental psychology, Juta, 2013, p.130 – 131
